Từ trước tiếng kêu khóc đầu tiên: Thiệt hai khó thống kê do biến đổi khí hậu

July 24, 2026

Điều đầu tiên đứa trẻ tiếp xúc có thể không phải với ngôn ngữ, tình yêu, hay giáo dục. Mà là môi trường.

Trước khi mở mắt chào đời, mỗi em bé đã trải qua nhiều tháng sống cùng những đợt nắng nóng, ô nhiễm không khí, lũ lụt, chế độ ăn thay đổi, nguy cơ bệnh truyền nhiễm, và cả căng thẳng mà người mẹ phải gánh chịu. Chúng ta thường tự hỏi biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng thế nào đến các thế hệ tương lai. Nhưng nếu nó đã bắt đầu từ trước khi đứa trẻ chào đời thì sao?

Tại Việt Nam, nơi nắng nóng cực đoan, ô nhiễm không khí, xâm nhập mặn, bão lũ và mưa bất thường ngày càng trở nên phổ biến, thai kỳ có thể là một trong những mặt trận sớm nhất và ít được chú ý nhất của biến đổi khí hậu.

Một dự án nghiên cứu định tính mới từ CEI, do GS. Pranee Liamputtong dẫn dắt, đang tìm hiểu ý nghĩa thực sự của việc mang thai ở tuyến đầu khủng hoảng khí hậu tại Việt Nam.

Một vùng đồng bằng dưới áp lực

Nghiên cứu được thực hiện tại Đồng bằng sông Cửu Long, “vựa lúa” của Việt Nam, một trong những nơi mà biến đổi khí hậu không còn là dự báo mà đã trở thành thực tế hàng ngày. Nước mặn đang lấn sâu vào các cánh đồng lúa. Đất đang sụt lún vài centimet mỗi năm. Năng suất lúa được dự báo giảm tới 15% vào năm 2030, và có thể lên tới 30% vào năm 2050. Hạn hán gây áp lực lên nguồn nước sinh hoạt của các hộ gia đình; lũ lụt làm gián đoạn đường sá và cơ sở y tế đúng vào lúc người phụ nữ cần đến chúng nhất.

Thoạt nhìn, không điều nào trong số này giống một câu chuyện về sức khỏe  của các bà mẹ. Nhưng việc thiếu nước sạch, nắng nóng gia tăng, mất an ninh lương thực, và hệ thống y tế địa phương suy yếu thực tế đổ dồn trực tiếp lên cơ thể của những phụ nữ mang thai và con nhỏ.

Điều con số không thể kể

Nghiên cứu y tế công cộng đã phác họa sơ bộ mối nguy hiểm này. Ô nhiễm không khí được liên hệ tới các hiện tượng sinh non, nhẹ cân, thai chết lưu và sảy thai. Tiếp xúc với nhiệt độ cao trong thai kỳ có liên quan đến các biến chứng cho cả mẹ và thai nhi. Các hiện tượng thời tiết cực đoan làm tăng nguy cơ trầm cảm sau sinh và rối loạn stress sau sang chấn. Phụ nữ đã được chỉ ra là dễ bị tổn thương hơn nam giới trước các hiện tượng này, đây là một khuôn mẫu mà các nhà nghiên cứu cho là bắt nguồn từ sinh học, nhưng cũng từ việc ai là người phải đi lấy nước, nấu ăn bên bếp lửa, và tiếp tục làm việc ngoài đồng giữa những đợt nắng nóng.

Nhưng không điều nào trong số này hiện được tính vào thống kê khí hậu. Nếu một phụ nữ mang thai ở Đồng bằng sông Cửu Long đổ bệnh sau một đợt nắng nóng, hay mất thai sau một mùa hạn hán và nước nhiễm mặn, sẽ không có hệ thống nào ghi nhận biến đổi khí hậu là nguyên nhân. Mất mát đó lẫn chung trong số liệu thống kê sức khỏe bà mẹ, và bởi vậy không có hành động nào được đưa ra để giải quyết nó.

Lắng nghe thay vì đếm số

Chính vì vậy, thay vì bắt đầu từ một bộ dữ liệu, nhóm nghiên cứu bắt đầu từ chính những người phụ nữ. Trong hai năm tới, các nhà nghiên cứu sẽ sống cùng khoảng năm mươi người tham gia tại các cộng đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long, gồm ba mươi phụ nữ mang thai và các bà mẹ mới sinh, cùng hai mươi người cung cấp thông tin chủ chốt bao gồm chồng, lão làng và lãnh đạo cộng đồng. Các nhà khoa học sẽ cùng ngồi trong các ngôi nhà, cùng đi bộ ra ruộng lúa và chợ với những người phụ nữ vẫn thực hiện hành trình đó mỗi ngày, và hỏi họ, một cách chậm rãi, rằng khoảnh khắc dễ tổn thương nhất trong cuộc đời họ thực sự cảm thấy như thế nào dưới một bầu trời đang đổi thay.

Các phương pháp được lựa chọn cũng kỹ lưỡng như chính những câu hỏi. Quan sát tham dự trong sáu tháng, để các nhà nghiên cứu hiểu được đời sống hàng ngày thay vì chỉ lấy mẫu một lát cắt nhỏ. Phỏng vấn khi cùng đi bộ, để các cuộc trò chuyện diễn ra ngay nơi rủi ro tồn tại, như trên con đường ra đồng, chứ không phải qua một chiếc bàn làm việc. Và phương pháp photovoice, trong đó phụ nữ dùng chính điện thoại của mình để chụp lại hình ảnh biến đổi khí hậu trong cuộc sống của họ, những bức ảnh sau này sẽ được mang đến các phòng họp chính sách xa vùng đồng bằng.

Đây không chỉ là một nghiên cứu nhằm làm nổi bật những chiến lược thực tế, thường mang tính ứng biến mà phụ nữ đã tự áp dụng để bảo vệ bản thân và con mình, mà để tìm hiểu, trực tiếp từ họ, loại công nghệ hay hỗ trợ đơn giản nào thực sự có thể giúp ích.

Vì sao điều này quan trọng vượt ra ngoài một vùng đồng bằng

Biến đổi khí hậu thường xuất hiện trong các báo cáo bằng milimet mực nước biển dâng và độ nóng lên toàn cầu. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, nó cũng xuất hiện, lặng lẽ và cho đến nay chưa ai đo đếm, trong những ca sảy thai và sinh non, trong gánh nặng tinh thần của việc nuôi con nhỏ giữa hạn hán, trong những tính toán thầm lặng của một phụ nữ mang thai về việc liệu có an toàn để đi đến trạm y tế hôm nay hay không.

Dự án này ra đời để đảm bảo phép đo đó cuối cùng cũng được thực hiện, và để những người phụ nữ đang trải qua nó chính là người kể cho chúng ta biết nó có ý nghĩa gì. Những gì các nhà nghiên cứu học được ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ không chỉ dừng lại ở đó. Những áp lực tương tự đang hội tụ lên phụ nữ mang thai tại các vùng đất thấp, dễ tổn thương trước khí hậu trên khắp thế giới. Một khung nghiên cứu được xây dựng từ việc lắng nghe năm mươi gia đình ở miền Nam Việt Nam có thể định hình cách các hệ thống y tế bà mẹ ở bất cứ đâu chuẩn bị cho một thế giới nóng hơn, khó lường hơn.

Trước tiếng khóc đầu đời của một đứa trẻ, biến đổi khí hậu đã lên tiếng trước. Nghiên cứu này là một nỗ lực để đảm bảo đó không phải là tiếng nói duy nhất.